KHỦNG HOẢNG ĐÁNH GIÁ Ở ĐẠI HỌC VÀ MỐI LO CỦA THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
Tác giả: TS. Nguyễn Thị Ngọc Minh
Khi AI ngày càng trở nên thông minh hơn, thì việc đánh giá ở Đại học lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Ở học kì này, tôi gần như cảm thấy bất lực vì dù đã tìm cách ra đề lắt léo để chống AI, nhưng khi chấm bài sinh viên, vẫn có khoảng 30-40% bài làm nằm trong “vùng xám”, không biết là người viết hay máy viết, và cũng không có đủ căn cứ để buộc tội lạm dụng AI.
Nhiều giảng viên phải quay trở lại với hình thức đánh giá làm làm bài kiểm tra trên lớp, với cơ chế canh phòng cẩn mật, không cho phép sinh viên sử dụng điện thoại, tài liệu. Nhưng hình thức đánh giá cổ lỗ này không đo lường được hết khả năng nghiên cứu, tư duy sâu và sáng tạo của sinh viên- những năng lực rất quan trọng ở bậc học Đại học. Nhiều giảng viên chấm điểm bài luận kết hợp phỏng vấn, nhưng làm sao xoay xở được với những lớp học vài trăm sinh viên, và số lượng giờ dạy lên tới hàng nghìn giờ trong mỗi năm học. Những giảng viên các môn thiên về thực hành thì may mắn hơn, vì dù sao cũng chưa tới lúc sinh viên có thể thuê một “avatar” giống hệt mình làm việc trong phòng thí nghiệm, tập giảng trong lớp học hay xông pha phỏng vấn ở hiện trường, nhưng tỉ lệ các môn học thực hành trong trường Đại học Việt Nam về cơ bản là rất hạn chế.
Việc đánh giá khoá luận Đại học, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ giờ đây cũng trở nên rất khó khăn. Mặc dù có một số phần mềm phát hiện AI, và có một số dấu hiệu dễ nhận về việc lạm dụng AI như viết chung chung, công thức, trích dẫn không nêu rõ nguồn..., nhưng chúng tôi vô cùng hoang mang khi đứng trước những nghiên cứu với cấu trúc rất ngay ngắn, logic, những tuyên bố lí thuyết kêu choang choang, danh mục tài liệu tham khảo dài dằng dặc toàn các tài liệu nước ngoài, lối diễn đạt chính xác không một tì vết như những khuôn mặt đã được phẫu thuật thẩm mĩ.
Điều đáng lo là, khi than phiền với các đồng nghiệp là giảng viên ở các trường Đại học và các chuyên ngành khác, tôi nhận thấy nỗi đau này chẳng của riêng ai. Những giáo viên, bác sĩ, luật sư, nhà báo tương lai đều đang hào hứng sử dụng AI như một công cụ để giúp họ “nhàn” hơn trong những năm tháng Đại học và vui vẻ ra trường với một tấm bằng trang sức mĩ miều. Tất nhiên, còn rất nhiều sinh viên vẫn cố gắng níu giữ sự thật thà lương thiện trong các bài kiểm tra, chấp nhận một điểm số khiêm tốn, tương đương với năng lực của mình, nhưng những trường hợp này trở nên lọt thỏm trong biển cả những bài luận bóng bẩy, vừa vặn, kêu vang được nhào nặn qua dây chuyền sản xuất AI.
Cuộc khủng hoảng đánh giá ở Đại học không những đang làm suy mòn chất lượng giáo dục mà còn có nguy cơ tạo ra những khủng hoảng lâu dài trong thị trường lao động. Bởi nếu không khéo, Đại học có thể trở thành cái lò sản xuất giáo viên giả, kĩ sư giả, bác sĩ, luật sư, nhà báo giả. Đánh giá ở bậc Đại học, trước nay vốn được coi là một “chốt chặn” của chất lượng, cái tạo động lực cho việc học và đặc biệt là tự học của sinh viên, giúp sinh viên “tỉnh ngộ” để ý thức được những thiếu sót của mình, thể hiện sự công bằng trong môi trường học thuật, kiểm soát đầu ra... Thế nhưng, khi đánh giá không còn có thể đo lường chính xác năng lực, và các bài luận Đại học không còn là một thách thức, khi sinh viên không còn phải lục lọi các thư viện hoặc ít nhất là search google, chật vật ghi chép, phân loại, giải mã, tổng hợp, đối sánh, đánh giá các thông tin mình thu nhận được, rồi sau đó nát óc nghỉ cách để diễn đạt những gì mình nghĩ trong đầu thành một ngôn ngữ trong sáng và giàu tính học thuật..., thì việc học trở nên rỗng nghĩa. Phép thần thông mà Bụt từng ban cho anh Khoai, cô Tấm trong cổ tích ngày xưa nay đã trở thành hiện thực. Đáng buồn là, nó chỉ có thể thay đổi được thứ trang sức bề ngoài, mà không thể hô biến một bộ não trống rỗng, thụ động, lười suy nghĩ thành một bộ óc thông thái. Giống như cô Lọ Lem khi tiếng chuông nhà thờ vang lên vào 12 giờ đêm bàng hoàng nhận ra cỗ xe lộng lẫy đã hiện nguyên hình thành quả bí ngô, đám xà ích giờ biến thành lũ chuột, nhiều sinh viên sẽ lầm vào khủng hoảng khi chật vật gia nhập vào thị trường lao động, với những yêu cầu hết sức khắt khe mà trong đó “làm thực”, “có năng lực thực” trở thành một thước đo chí mạng.
Trong con đường chật vật đi tìm một giải pháp đánh giá công bằng, giờ đây, tôi chỉ có thể, như một bà già bất lực mà lại thích ra oai, vừa van lơn vừa dỗ dành vừa doạ dẫm sinh viên rằng: “Các em ạ, đừng lãng phí 4 năm học Đại học, vì đây là cơ hội duy nhất để các em được học mà không phải nơm nớp lo cơm áo”. Và rồi thì: “Thế giới ngoài kia khắc nghiệt lắm, rồi các em sẽ thấy. Người ta yêu cầu rất cao ở các em. Và học Đại học là để trau dồi khả năng sinh tồn trước những thử thách này”. Và rồi thì: “Cứ trả lời sai đi, viết ngô nghê một tí cũng được, để tôi còn có cơ hội chỉ cho các em biết em cần phải học thêm điều gì. Vì giảng đường là không gian hiếm hoi cho phép các em được quyền sai”. Và: “Học thực chất là gì, là cách mà ta chật vật chiếm lĩnh những tri thức mới và khó, và thông qua quá trình chật vật đó, não bộ của ta được tôi luyện để trở nên thông minh hơn”. Bla bla... Thế nhưng, một trong những điểm ưu việt của tuổi trẻ là không biết sợ và khả năng bỏ ngoài tai hoặc thậm chí làm ngược lại tất cả những gì mà “bọn già” khuyên bảo, lời của tôi chỉ như nước đổ lá khoai.
Trong nỗi tuyệt vọng, tôi chợt nghĩ một cách lẩm cẩm: Hay là giải tán Đại học luôn đi. Hay là xây dựng một hệ thống digital learning hoặc một con robot giảng viên biết tuốt để ai muốn học gì thì tự đi mà học, rồi để cho thị trường lao động tự sàng lọc, tự đánh giá. Liệu khi việc học hành, thi cử không còn bắt buộc nữa, khi bằng cấp không còn là một trang sức nữa, thì việc học có quay về đúng với bản chất của nó: để lấp đầy sự tò mò vô hạn của con người, để thoả mãn nhu cầu khám phá và phát triển bản thân? Liệu khi việc học không còn giới hạn bên trong trường Đại học, trong không gian giảng đường, trong giáo trình, mà mở rộng ra suốt đời, ở mọi nơi, mọi lúc, cho tất cả mọi người, thì xã hội có ham học và học thực hơn không? Phải chăng, mô hình giáo dục Đại học mà chúng ta đang theo đuổi đã trở nên lỗi thời? Phải chăng sự khủng hoảng này báo hiệu một mô hình giáo dục mới, mà trong đó việc thực hành cần trở thành một hạt nhân trung tâm và người học được giải phóng hoàn toàn khỏi những nghi thức thi cử đang trói buộc họ?
Tất nhiên, đấy chỉ là những suy nghĩ viển vông trong phút quẫn trí.
Nhưng bài toán hóc búa mà chúng ta phải đối mặt là: Làm thế nào để sinh viên hiểu rằng việc học là vì chính họ trong khi suốt 12 năm học phổ thông trước đó họ đã học vì cha mẹ, thầy cô và học chỉ để đi thi? Làm thế nào chống lại bệnh dịch “thối não” đang lan tràn khắp các giảng đường? Làm thế nào để sinh viên biết tận dụng AI như một công cụ hữu ích để học tập thay vì lạm dụng AI để đối phó với thi cử? Làm thế nào để giảng viên có đủ khả năng đánh giá chính xác năng lực của người học trong bối cảnh có AI? Làm thế nào để không tạo ra những cử nhân giấy, thạc sĩ ảo và tiến sĩ người máy? Làm thế nào để phát huy sức mạnh người bên trong mỗi chúng ta, trong một kỉ nguyên mà máy móc giờ đây không chỉ biết nhìn, biết nghe mà còn biết nghĩ và biết nói? Làm thế nào để những con người mà chúng ta đào tạo ngày hôm nay có thể vượt xa những gì mà máy móc có thể làm, để họ không trở nên vô dụng trong tương lai? Làm thế nào để Đại học không còn là một nơi “học đại” mà là mảnh đất cho sự kết nối, khởi nghiệp và sáng tạo? Đại học phải thay đổi thế nào để thích ứng và hơn thế, để dẫn dắt thế giới này?
Mong rằng, một ngày nào đó, những câu hỏi này sẽ được trả lời.



Thật sự thấm thía những lời chị nói, ra trường rồi mới thấy cảnh bằng cấp đẹp chả bằng thực học, thực làm, thực suy nghĩ và tự làm lấy thứ mình tự suy nghĩ ra. Thứ khủng khiếp nhất mà mỗi sinh viên phải đối mặt không phải là sự khó chịu, khó hiểu của mỗi kì thi; Mà đó là quá trình sàng lọc tự nhiên của xã hội sau này, quá trình tìm việc. Không làm được việc là lộ ra ngay, không cách nào che dấu được.